Duy biểu ứng dụng

Sống cho sâu sắc trong từng giây phút

Không có ranh giới giữa vô tình và hữu tình.

Đám mây không chết, đám mây trở thành dòng sông, rồi dòng sông trở thành lại đám mây, nên chết chỉ là sự tiếp nối dưới hình thức khác

Làm người chúng ta phải sống cho sâu sắc trong từng giây phút, như trong mỗi hơi thở vào, mình phải tìm thấy cái bình an và niềm vui.

Khi thở vào mình phải sống trong hơi thở vào, vì mình đang kinh nghiệm hơi thở vào. Rồi mình biết chế tác bình an và niềm vui sống. 

Kinh An Ban Thủ Ý dạy ta cách thở vào.

Niệm là chú tâm vào một cái

Định là nhất tâm vào một cái

Tuệ được phát sinh

Tuệ là cái thấy, a mình đang thở – là mình đang sống, đang được làm người. Mình có hai mắt để thấy được trời xanh, có hai lỗ tai để thấy được tiếng chuông, tiếng chim kêu, mình có hai lá phổi để thở vào và thở ra được. Đó là những cái thấy nó tới khi mình có niệm và có định và mình có đời sống để sống. 

Mình có cơ hội để thở vào, mình có một hình hài. 

Mình có cơ hội sống cho được sâu sắc. 

Tất cả những cái đó là những cái thấy khi tâm mình có mặt ở đó, nó trân chú thì cái thấy tới một cách tự nhiên.

Mình sống từng hơi thở một, đi qua từng hơi th

Mình phải chế tác cho được cái niềm vui và cái bình an trong từng hơi thở. Đó là một cái thách thức của người tu.

Nếu mình thở như vậy, chế tác được sự bình an, sự buông thư, niềm vui thì những hơi thở đó nó có chức năng trị liệu và nuôi dưỡng. Vì khi mình thở như vậy mình buông bỏ hết quá khứ, tương lai, mình buông bỏ những sự căng thẳng trong thân và trong tâm, mình có khả năng thưởng thức hơi thở vào và hơi thở ra.

Khi thở vào cảm thấy thích thú đó gọi là pháp lạc – là niềm vui của chánh pháp. 

Đối với hành giả đó là thức ăn gọi là thiền diệc vi thực – lấy niềm vui của sự thực tập làm thức ăn hàng ngày – nó nuôi dưỡng và trị liệu cho mình.

Khi có hỷ lạc và bình an rồi, ta mới có gì hiến tặng cho người ta thương. Nếu không, ta không có gì hiến tặng, không có gì để cho nhau hết.

Nên ta có thể nói: 

Sống một hơi thở.

Sống một tiếng chuông.

Sống một đời sống được làm bằng những hơi thở, những tiếng chuông và những bước chân. Thầy mình trao cho mình rất nhiều bài kệ rất hay, những bài kệ đó có thể áp dụng trong khi đi:

Con đang bước những bước chân huyền thoại

Con đang thở những hơi thở truyền kỳ

Con đang sống những phút giây kỳ diệu 

Hạnh phúc cười trên nẻo đường con đi

Đó là chế tác hỷ, chế tác lạc để nuôi mình, và khi mình được nuôi thì mình nuôi được những người khác. Nên trong khi đi chúng ta phải tập đi như thế nào để mỗi bước chân có thể chế tác được bình an, hỷ và lạc. 

Chúng ta phải sống từng bước chân. 

Mỗi bước chân, mỗi hơi thở là sự sống, nên một bước đi là sự sống, nên mình sống cho sâu sắc đời sống mà thiên nhiên tặng cho mình, nếu không nó rất là uổng.

Phối hợp hơi thở với bước chân. Mình nếm từng hơi thở, mình nếm cái bình an, cái hỷ cái lạc trong từng bước chân.

Mỗi bước chân là một hơi thở – slow walking

Đi như thế nào để tiếp xúc được màu nhiệm của đất trời, đi như thế nào để bước chân giúp cho mình trở về với giây phút hiện tại. Đi như thế nào để mỗi bước chân có bình an, có ỷ hỷ, có lạc.

Nếu thực sự muốn thì ai cũng làm được. 

Đi với đại chúng mình đi với tốc độ bình thường. Khi thở vào mình bước hai bước khi đi đường bằng, leo dốc số bước ít hơn.

Khi tập cùng những bài kệ, bài kệ như những tay vịn cho mình.

Mình thở như thế nào để hơi thở nó lắng dịu xuống, nó có phẩm chất – cái đó gọi là điều tức.

Mình làm sao để hình hài của mình nó thẳng, nó buông thư, nó thoải mái, đó là điều thân. 

Như vậy mỗi hơi thở, mỗi bước chân đều chế tác được hỷ và lạc, mỗi tiếng chuông có thể chế tác được hỷ và lạc.

Khi ngồi thiền, khi ăn cơm cũng có thể chế tác hỷ và lạc.

Khi ăn cơm mình không suy nghĩ, chỉ cảm nhận thôi. Niệm, Định, Tuệ cho mình thấy đây là khung cảnh tuyệt vời, được ngồi ăn cơm với bạn, với người thương.

Trong khi mình thở, mình lấy cơm vào, mình ngồi xuống, mình không phải đợi những người khác, mình ngồi xuống để mình thở. Mình đã bắt đầu ăn rồi, chưa ăn cơm nhưng đã thấy thiền diệc rồi. Đó là cơ hội chế tác hỷ và chế tác lạc, và khi người chót lấy cơm đi vào thì không khí trong thiền đường đã rất hùng tráng vì mọi người đều đang thở, không có ai chờ đợi hết. 

Năng lượng tập thể của niệm của định nó rất hùng hậu. Chúng ta nuôi nhau bằng năng lượng của niệm và của định. Khi thực tập với tăng thân nó có cái lợi như vậy. Hơi thở của mình, bước chân của mình nuôi mình nhưng nó giúp nuôi người bạn tu của mình.

Mình múc một thìa cơm lên. Trong khi mình làm như vậy mình để ý tới thìa cơm của mình, cái tâm của mình không có suy nghĩ. Trong khi ăn mình chỉ để tâm đến hai chuyện thôi là cái cơm của mình đang ăn và những người bạn tu đang ăn vơi mình. Niệm cơm và niệm tâm. Ngưng tất cả mọi suy nghĩ, nhớ rằng mình đang được ăn cơm với tăng thân.

Có nhiều khi mình ăn mà mình không biết là mình đang ăn và cũng không biết mình đang ăn gì tại vì cái tâm mình không có mặt đó. Gọi là tâm bất tại.

Khi tâm không có mặt thì nhìn mà không thấy, nghe mà không nghe và ăn thì không có biết cái mùi vị mà mình đang ăn. Cái đó là không có chánh niệm hay thất niệm. 

Đưa thìa cơm lên mình phải lấy cái niệm mà giơ miếng cơm và thấy được đây là tặng phẩm của đất trời

Cái miếng bánh này, những cái hạt cơm này nó là tặng phẩm của đất trời. Đất trời đã cộng tác với nhau để đưa tới cho mình miếng bánh này, hạt cơm này và mình chỉ cần một hay hai giây là thấy được điều đó. Cái đấy gọi là Tuệ. 

Khi mình đưa vào miệng, mình ý thức được rằng mình đang tiếp xúc với đất trời

Mình nhai thì mình duy trì ý thức đó, mình đừng nhai những cái lo lắng, những cái buồn khổ của mình. Và mình phải sống với miếng cơm đó. Nhai như thế nào để có an, có hỷ, có lạc. 

Nên không chỉ cơm nuôi mình mà mình còn được nuôi bằng an, bằng hỷ, bằng lạc. Đó là nghệ thuật sống. 

Mình có thể nhai ít nhất là ba chục lần. Trong khi nhai như vậy mình chỉ thở và mình chỉ tiếp xúc với đất trời thôi và không có suy nghĩ. 

Cái bí quyết của sự thành công là không suy nghĩ no thinking Tại suy nghĩ nó lấy mình ra khỏi giây phút của hiện tại. 

Chúng ta suy nghĩ rất nhiều nhưng suy nghĩ của chúng ta nó không có ích lợi nhiều. Nếu chúng ta cần suy nghĩ thì chúng ta suy nghĩ trong Chánh niệm, trong Định thì suy nghĩ đó sẽ đưa lại nhiều trí tuệ. – Productive Thường suy nghĩ của chúng ta la non-productive. Càng suy nghĩ càng bấn loạn thêm 

Suy nghĩ không có ích lợi gì là mental discus, nó làm cho mình bận rộn, mình không tiếp xúc được với sự sống. 

Mình không cần ăn nhiều, mà vẫn cảm thấy đầy đủ, thoải mái chỉ cần ăn cho kỹ, nhai kỹ và như vậy mình sống từng miếng cơm. 

Ăn như thế nào để có An, có Hỷ, có Lạc, đó là sự thách thức.

Khi ăn được như vậy đời sống của mình được tăng lên cao. Để một mai mình trở thành mưa thì mình không có tiếc nối rằng trong thời gian mình làm mây, mình không có làm mây cho đàng hoàng. 

Duy biểu ứng dụng – Phần 1/16

Thầy Thích Nhất Hạnh giảng tại làng Mai

Mạc Na

Lực lượng thứ nhất biểu hiện ra thế giới, ra vũ trụ và sự sống. 

Lực lượng thứ nhất gọi là Đệ nhất Năng Biến hay Năng biến thứ nhất là Tàng Thức.

Lực lượng thứ hai là Đệ nhị Năng Biến hay  Năng Biến thứ hai gọi là Mạc Na

Y bỉ chuyển duyên bỉ

Mạc Na nương vào Tàng Thức mà phát sinh và trở về nắm lấy Tàng

Tàng thức – Đệ Nhất Năng biến. Trong Tàng Thức có sức sống gọi là Mạn Căng. Từ sức sống Mạn Căng đó nó phát sinh ra cái đệ nhị Năng Biến là Mạc Na.

Tư lương với tánh tướng 

Bản chất và tướng trạng. Mạc Na là trung tâm của tư duy, đây là một loại trực giác, nó nhận ra hình hài này là nó Chủ thể và Đối tượng. 

Chúng ta biết rằng con người của chúng ta được làm bằng năm yếu tố: Sắc Thọ Tưởng Hành Thức.

Trước hết Mạc Na được phát sinh từ Tàng thức, nó nắm lấy hình hài này và nó cho là nó.

Hình hài này trong Tàng Thức là một cái rất màu nhiệm, nó không phải là đối tượng của một sự nắm bắt nào hết, nó hoàn toàn có tự do.

Nhưng Mạc Na ôm lấy cái đó và cho đó là cái Ta của nó, cái đối tượng của nó. Cái đó gọi là Thân kiến – là một cái thấy: cái thân này là ta. Mạc Na có chủ thể và đối tượng và đối tượng của nó là hình hài này. Hình hài này là tôi, là của tôi.  

Bản chất cũng như là chức năng của Mạc Na là Tư lương – Mentation.

Cái nhận thức này là một trực giác nhưng là một trực giác sai lầm

Trong Tàng thì hình hài này là một cái gì màu nhiệm và có nhiều tự do.

Đối với Mạc na thì hình hài là đối tượng của nó, đối tượng thương yêu của nó, nó chấp đó là cái Ta và nó bám lấy cái đó. Hình ảnh này không phải là hình ảnh của thực tại mà là hình ảnh được tạo tác bởi Tâm thức. Hình hài này trong Tàng Thức là Tánh cảnh. 

Khi Mạc Na nhìn, nó biến hình và thành một hình ảnh do Tâm thức tạo ra. Cái Ta là một tạo tác của Tâm thức và suốt ngày đêm ôm lấy hình hài đó nói đây là Ta, đây là của ta. 

Không biết cái hình hài này nó được làm bằng núi sông, cây cỏ

Thực ra đây là môi trường sự sống của vũ trụ tạo tác ra hình hài và nhìn vào trong hình hài này mình thấy cái môi trường – Environtment. 

Con người được làm bằng những yếu tố của môi trường. Lấy cái này ra khỏi thì không còn cái này nữa và Mạc na không thấy được cái đó. Mạc na nói cái cái này không phải là tôi, chỉ cái này là tôi thôi vì vậy cho nên có một cái nhìn méo mó và cho đó là cái ta của nó. 

Nương vào Tàng Thức mà biểu hiện rồi chuyển lại ôm lấy Tàng Thức làm đối tượng và cái tính chất và hình thái hoạt động của nó là Tư lượng. 

Tứ phiền não thường câu

Đi chung với thức Mạc Na này nó có 4 phiền não:

Ngã Si: si mê về Ngã, một cái thấy sai lầm, một sự u mê về Ngã-Ignorance about Self

Ngã Kiến: một cái thấy sai lầm – Wrong view about Self

Ngã Mạn: một cái mặc cảm về Ngã: hơn người – Tự tôn; thua người – Tự ti; bằng người Conflict about Self

Ngã Ái: vướng mắc vào nó Attachtment to Self. Nên cái thức này được gọi là tình thức. 

Ngoài ra nó còn đi chung với những loại tâm hành như: Xúc Ý, Tác Ý, Thọ, Tưởng, Tư. Gọi là Biểu Hành

Hữu phú vô ký nhất

Vô ký nhất – nó không phải thiện cũng không phải ác, nó bị che lấp vì nó bị phát sinh từ ý chí muốn sống, ôm chặt lấy hình hài này nên nó không thấy được sự thật. 

Hữu phủ là bị che lấp

Đệ nhất năng biến là Vô phú vô ký 

Còn Đệ nhị năng biến là Hữu phú vô ký

Tuỳ sở sanh sở hể

Hễ Tàng biểu hiện ở đâu thì nó biểu hiện ở đó. Nó đi theo Tàng như bóng với hình.

(Khi đi vào xuất Thế đạo thì nó biến mất, thay thế cho nó là Bình Đẳng Tánh chí.

Bình đẳng tánh không còn thấy có ta có người, vượt thoát ba cái mặc cảm: không còn si mê, không còn ái nghiêm nữa.

Câu này chứng tỏ tác giả chưa vượt thoát khỏi ý niệm về thiện về ác)

Ý niệm về năm cái thấy – Ngũ kiến: 

Thân kiến, thấy hình hài này là một cái Tàng – đó là kiến giải sai lầm.

Nội chuyện Quán chiếu để thấy sự có mặt của tổ tiên ở trong con người của mình đủ làm mình vượt thoát cái thấy đó. Cái hình hài này không phải là của ta, không phải một cái Ta, cái hình hài này thật ra là sự tiếp nối của tổ tiên, của cha mẹ. 

Mình nói cái hình hài này là của riêng mình là ngây thơ lắm.

Cái hình hài này không phải là một cái ta, mình không có làm chủ hình hài này. 

Hình hài này là sự tiếp nối của một dòng sinh mạng đi từ tổ tiên cho tới cha mẹ, tới mình và tiếp nối mình là con cháu của mình. 

Chỉ cần quán chiếu về sự có mặt của tổ tiên trong mình là mình có thể vượt thoát được cái ý niệm về ta rồi cái đó gọi là Thân kiến. 

Thứ 2 là Biên Kiến, Biên là một bên, một cái thái cực 

Biên kiến là một trở ngại rất lớn của nhận thức con người. Vì biên kiến nên con người không nắm được sự thật

Ví dụ như mình tưởng chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức là hai cái có thể tách rời ra được. Mình tưởng tượng là có một tâm thức nó ở trong tâm thức chủ quan, nó nằm bên trong, nó có ý niệm về trong và về ngoài, về chủ quan và khách quan, nó có một tâm thức chủ quan nằm bên trong và nó có một thế giới khách quan nó nằm ở bên ngoài và hai cái có thể có mặt riêng biệt. 

Có thế giới khách quan hay không có thì tâm thức tôi vẫn có thể có mặt riêng được. Có tâm thức hay không có tâm thức của anh thì thế giới khách quan vẫn có thể có được. 

Đó là cái thấy lưỡng nguyên mà mình không biết tâm thức và thực tại nó nương vào nhau mà có. 

Cái chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức không thể tách rời nhau ra được. 

Thấy là thấy cái gì

Nghe là nghe cái gì

Buồn là buồn cái gì

Khổ là khổ cái gì

Tâm thức không có đối tượng thì không thể có được. Tính vô nhị và bất nhị giữa chủ thế và đối tượng.

Khi mình tin có chủ thể riêng có đối tượng riêng, có trong riêng với ngoài, trên riêng với cái dưới, có cái trái riêng với cái phải cái đó gọi là biên kiến. Cái chết riêng với cái sống, có cái thiện riêng với cái ác, có cái khổ riêng với cái vui, và mình chọn mình lấy một cái thôi và cái bên kia mình không cần. 

Ví dụ tờ giấy, tờ giấy mình thấy rõ ràng có hai mặt, một là mặt trái hai là mặt phải và sự thật mình không thể lấy mặt này ra khỏi mặt kia được. Hễ có mặt phải có trái, trong và ngoài cũng vậy, chủ thể và đối tượng cũng vậy, nhiễm và tịnh cũng vậy, cái hạnh phúc và cái khổ đau cũng vậy. 

Khi mình nghĩ hai cái có thể có riêng nhau, có thể tồn tại riêng nhau đó gọi là biên kiến và muốn thoát khỏi biên kiến phải có cái nhìn tương tức.

Đừng đi tìm một nơi có hạnh phúc mà không có đau khổ. Cái nơi đó dù là Tịnh độ cũng vậy, không thể có hạnh phúc nếu không có đau khổ. Không thể nào có chỗ trồng sen được nếu không có bùn, không thể nào tạo dựng hạnh phúc được nếu không có đau khổ.

Và ở đây bị kẹt vào cái chỗ mà chỉ khi nào tiêu diệt hoàn toàn cái Mạt na thì mới có Bình Đẳng Thánh Trí thì có nghĩa là, chỉ khi nào hết bùn thì mới có sen thì không có đúng. 

Cái vấn đề là phải biết sử dụng những cái bùn của Mạt na để làm sen, chừng nào có bùn thì chừng ấy có sen. Nó có nghĩa là trong quý vị nó có những nỗi khổ niềm đau, những cái năng lượng của ái dục, những cái tâm hành vướng mắc, mặc cảm, những cái thấy sai lầm và những cái si mê đó, những cái đó là bùn hết. 

Không cần quét sạch những cái đó, mình chỉ cần biết sử dụng cái đó để làm nên cái hạnh phúc. Mình phải biết sử dụng cái bùn để làm lên cái sen. 

Nếu quý vị đã từng có đau khổ, nếu quý vị đã từng có vướng mắc thì cái đó là bùn. Sở dĩ quý vị không có hạnh phúc tại vì quý vị để cho những thứ đó nó phát triển, nó tràn lấp. Quý vị không biết sử dụng cái đó để làm thành những bông sen của hạnh phúc. Hạnh phúc được làm bằng khổ đau. 

Điều đầu tiên là phải chấp nhận bùn ở trong quý vị, ngay chuyện chấp nhận điều đó là có sự bình an rồi

Quý vị đừng náo nức diệt hết bùn, diệt hết bùn thì làm sao nuôi sen được. Cái vấn đề là đừng để cho bùn tràn ngập, cái vấn đề là biết sử dụng bùn để nuôi sen. Vì hễ có bùn là có sen. Hễ có Mạc Na là có Bình Đẳng Tánh Trí

Mình phải chấp nhận những khổ đau của mình, những yếu kém của mình, mình tự khắc có bình an. Mình sử dụng những cái yếu kém, khổ đau đó để chế tác ra hạnh phúc.

Nên khi nói không có Mạc na nữa để có Bình Đẳng Tánh trí là sai lầm của những người đi trước. Căn cứ để phát sinh ra ý thức. 

Nếu không có Mạt Na thì sao có ý thức. 

Nếu không có lỗ tai thì sao có cái nghe, nếu không có con mắt sao có cái thấy. 

Nếu không có Mạc Na thì sao có Ý căn. 

Mà không có Ý căn thì không có Ý thức. 

Chính Ý thức là dụng cụ để tu học.

Duy biểu ứng dụng 1/16

Thầy Thích Nhất Hạnh giảng ở làng Mai